Về đối ngoại, các trường đại học thế học không công nhận văn bằng Cử nhân Phật học; văn bằng Trung cấp chuyên nghiệp của thế học thì có giá trị hẳn hòi trong khi bằng Trung cấp Phật học chỉ là chứng chỉ cơ bản để vào Đại học Phật giáo!
Quãng
thời gian 30 hoạt động của ngành Giáo dục Tăng Ni (GDTN) khá dài, nhưng chúng
ta nằm trong thế hầu như bị động. Đà tiến của ngành Giáo dục Phật giáo phải nói
là rất chậm so với tốc độ kinh hoàng của khoa học, của thời đại. Tuy không chủ
trương chạy theo thời đại, nhưng nếu chúng ta không cập nhật để cải đổi kịp
thời thì việc lãnh đạo của chúng ta chắc chắn bị tụt hậu. Hiện nay, Trung ương
Giáo hội vẫn chưa có kế hoạch chiến lược thống suốt cho ngành GDTN, do đó căn
cứ tình hình thực tế, chúng tôi xin mạo muội đề xuất một vài giải pháp tạm
thời.
I.
Nhất quán mục tiêu Giáo dục
Chúng
tôi luôn chủ trương mỗi ngôi trường, mỗi lớp học của Phật giáo phải là một cửa
ngõ nhập thế rộng rãi; mỗi học viên của trường Phật học phải là những người
thực tu, thực học, có định hướng, biết ước mơ. Sau khi ra trường, các học Tăng
học Ni có thể tự chọn cho mình một ngôi trường tiếp theo để tu học, một vị trí
phụng sự Giáo hội, hay một mục tiêu tâm linh để nỗ lực công phu.
Hiện
nay, Giáo dục Phật học đang đứng trước những thách thức và viễn ảnh: thách thức
lớn của Phật giáo là vấn đề kinh phí, và viễn cảnh chính là Phật giáo
“chuông-mõ”. Tăng ni ngày nay hoặc là chú trọng chuyên tu theo một thế cách rất
tách biệt, hoặc quay cuồng trong dòng xoáy độ sanh, độ tử bằng hình thái hấp
dẫn của nghi lễ tán tụng và đáp ứng nhu cầu ngắn hạn cấp thời của quần chúng,
mà quên đi phạm hạnh, công phu. Cả hai khía cạnh này đều là cực đoan mà người
học Phật cần phải tránh.
Rải
rác trong kinh điển Phật giáo cũng như quan điểm của các nhà giáo dục, mục tiêu
cơ bản của giáo dục là phải giúp con người hiểu rõ sự thật của tự thân, sự thật
của thế giới, thấy rõ hướng đi đời sống của mình và chịu trách nhiệm về hành vi
của mình. Nghĩa là giáo dục phải là giáo dục con người nhận biết được sự thật
của chính mình, con đường chân thật dẫn đến hạnh phúc hiện tại.
II.
Hệ thống Giáo dục
Hiện
nay cơ sở Giáo dục của tỉnh đa số chỉ có hai cấp Trung và Sơ, hoặc một trong
hai. Nên có hướng phấn đấu để vận động thành lập các lớp sơ cấp Phật học rải
đều các huyện, thị Giáo hội. Một số tỉnh lân cận nên gom thành cụm để mở những
lớp chuyên khoa, hoặc hơn nữa là Cao đẳng.
Mặc
dù theo sự quy định của Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương, chương trình học của
Trung cấp là 4 năm, nhưng xét tình hình thực tế, một số trường đã chủ động thay
đổi cơ chế còn lại 3 năm. Vì, một số các bộ môn cơ bản đã được dạy ở bậc sơ
cấp; và việc điều chỉnh này cũng phù hợp với các trường Trung cấp Chuyên nghiệp
thuộc Bộ GD-ĐT, chỉ có 2 hoặc 3 năm. Trường TCPH Khánh Hòa là một điển hình.
Bên cạnh đó, vì không có sự thống nhất chương trình giảng dạy từ Ban GDTN Trung
ương, nên nhà trường phải tự cân đối tình hình học viên, phân phối chương trình
giảng dạy, định ra quy chế dạy, học, thi cử, đánh giá, xếp loại học viên … dựa
theo Quy chế của Bộ Giáo dục ban hành.
Tình
hình quan trọng mà hiện nay ai cũng biết là chưa có bộ sách giáo khoa được sự
chứng duyệt ban hành từ Giáo hội Trung ương. Do đó, các vị giáo thọ các bộ môn
khi dạy bắt buộc phải tự soạn bài. Từ những bài giảng và kinh nghiệm rút ra
thêm trong quá trình giảng dạy, bộ phận học vụ sẽ trợ giúp biên tập lại thành
một cảo bản giáo trình, lưu giữ tại thư viện trường, để có cơ sở đối chiếu và
tham khảo cho các khóa học sau. Nếu được chỉnh đốn hoàn thiện hơn, thì với mỗi
bộ môn như thế, chúng ta sẽ có một tập “giáo khoa địa phương” cho trường sở
tại.
Về
tiêu chuẩn đánh giá, chúng tôi đề nghị thống nhất theo hệ thống giáo dục hiện
đại, áp dụng thang điểm 10 thay vì 20, để có thể chuyển sang bách phân dễ dàng,
hay nếu so sánh với các trường thế học cũng có sự đồng bộ. Việc kiểm duyệt giáo
án, Ban GDTN Khánh Hòa đang trình phương án thành lập Hội đồng thẩm định giáo
án để có sở y vững chắc hơn. Đây là giải pháp tạm thời, nhưng có lẽ cũng sẽ áp
dụng lâu dài cho tới khi Giáo hội TƯ có chỉ thị mới. Thành phần nhân sự của hội
đồng này gồm có các vị kỳ túc trong ngôi nhà Giáo dục Phật giáo, có sở học cao,
kinh nghiệm giảng dạy nhiều, đang hoặc không đang tham gia các công tác Giáo
hội… Nếu thành lập được Hội đồng này rồi, việc đánh giá chất lượng đào tạo cũng
sẽ dễ dàng hơn.
Để
tổ chức giáo dục Phật giáo được vận hành triệt để, các nhà s ư phạm Phật giáo
phải là những người làm việc toàn thời gian cho trường lớp. Như các vị Hòa
thượng tiền bối từng dạy “phải sống với hơi thở của Giáo dục” thì mới hoàn
thành được sứ mệnh. Nếu không cân đối được quỹ thời gian, mà dành quá nhiều cho
hành chánh, nghi lễ phục vụ … thì rõ ràng chất lượng giáo dục không bao nhiêu.
Thêm nữa, chúng tôi chủ trương mời dạy và có sự đãi ngộ phù hợp, tuyệt đối
không áp dụng chế độ công quả.
Về
vấn đề tuyển sinh, chưa có một quy định nào về chỉ tiêu tuyển sinh của các t rường
Phật học trong cả nước. Chúng ta nên thống nhất chỉ tiêu tuyển sinh từ 100 đến
150 tăng ni cho mỗi tỉnh (nếu đào tạo theo khóa), và trường phải chia thành
nhiều lớp nếu số học viên quá đông. Đặc biệt là ở bậc học trung cấp, chất lượng
học tập sẽ không tỉ lệ thuận đối với một giảng đường đông nghẹt. Các tỉnh thành
hiện nay cứ phải tuyển sinh đào tạo theo khóa, vì các lý do khách quan như pháp
lý nhà nước, cơ sở vật chất chưa đủ đáp ứng... Chúng ta nên mạnh dạn khắc phục
tồn đọng để tuyển sinh hàng năm. Có thể giảm chỉ tiêu tuyển sinh thấp xuống để
vẫn đảm bảo số lượng học viên các khóa, lớp phù hợp. Làm như thế vừa giúp Tăng
ni bớt chán ngán chờ đợi, giữ được đà hứng thú học tập; vừa giải quyết được vấn
đề dạy bổ sung, lưu ban, thi bù môn học ...
III.
Hoạt động Quản l ý
Ở
một trường Phật học của tỉnh thì vị trí Hiệu trưởng phải do trưởng ban Giáo dục
Tăng ni (hoặc phó trưởng ban) của tỉnh hội đảm nhiệm. Như thế việc quản lý giáo
dục của tỉnh sẽ thông suốt và thuận lợi hơn. Và dĩ nhiên, vị này tuyệt đối không
nên kiêm nhiệm chức vụ nào trong giáo hội cả, để việc làm đối với công tác giáo
dục là toàn thời gian. Về giáo thọ giảng dạy, ta nên thảo luận đi đến nhất quán
trong công tác, thời gian phục vụ và chế độ chu cấp bút chỉ cụ thể. Tốt hơn
nữa, chúng ta nên áp dụng cơ chế biên chế như nhà nước, có như thế mới đủ pháp
lý để ràng buộc trách nhiệm các vị giáo thọ đối với sự nghiệp giáo dục, và tạo
điều kiện cho họ nghiên cứu.
Một
điều hết sức quan trọng có thể coi là vấn đề xương sống, đó là cơ sở cư trú cho
TNS.
Sinh
hoạt nội trú là biện pháp tốt nhất để theo dõi việc học hành, đặc biệt là phẩm
hạnh của Tăng Ni sinh. Có nội trú, nhà trường mới giữ được truyền thống tu học
Thiền môn. Trong cơ sở nội trú, phải có hệ thống y tế tối thiểu, thư viện,
thiền đường, điều kiện giải trí,… Chúng ta phải nhất định tổ chức cho được việc
nội trú, phải dứt khoát xem nội trú là điều kiện tiên quyết để thành lập một
trường Phật học, không tổ chức được nội trú thì không nên mở trường. Chư tôn
đức bổn sư khi đã cho đệ tử nhập học thì dứt khoát phải chuyển TNS vào ở nội
trú, dù chùa gần trong nội thành, dù Phật sự tại cơ sở cần thiết đến mấy. Vì
thời gian theo học là thời gian để các Tăng ni xây dựng nội lực của mình trên
cả ba phương diện: kiến thức, đạo hạnh và thể chất. Ba phươ ng diện này chỉ
được hoàn thiện đồng đẳng trong môi trường đại chúng hòa hợp.
Nếu
TNS chỉ được học lý thuyết mà không có cơ hội thực hành thì đi ngược tôn chỉ
“tri hành hợp nhất”. Cho nên, bên cạnh giáo dục giảng đường, thư viện, thì giáo
dục môi trường, giáo dục định hướng, giáo dục tâm lý … là những yếu tố rất quan
trọng không thể thiếu. Khi soạn giáo án, phải có chương trình thực hành bắt
buộc như thực tập, khảo sát thực tế. Môi trường nội trú phải có những giờ
chuyên tu. Tăng Ni sinh phải được sắp xếp t hỉnh giảng giáo lý, hướng dẫn các
khóa tu, hay tham gia công tác xã hội, chăm sóc bệnh nhân, giúp đỡ người nghèo.
Chương trình ngoại khóa là một tất yếu trong môi trường giáo dục Phật giáo.
Để
quản lý và tạo điều kiện cho Tăng ni học tập thật sự thì các tr ường phải lưu
trữ hồ sơ và quản lý bằng phương pháp hiện đại, khoa học. Khi TNS ra trường dù
đạt tốt nghiệp hay không, phải có học bạ. Hồ sơ, điểm số được lưu trữ tối thiểu
10 năm để học viên khi cần có thể quay lại trường xin chứng nhận. Mỗi học viên
phải có mã số, khóa học. Khi cần thiết tra cứu thì văn phòng chỉ truy cập số
danh bộ trong sổ, hoặc học viên tự gõ mã số vào phần quản lý TNS của địa chỉ
điện toán trường sở tại. Quản lý tốt sẽ hạn chế tình trạng không đáng có trong
ngành giáo dục Phật giáo.
Nhân
sự điều hành, tổ chức như thế nào là nhân tố quyết định sự thành công của mọi
trường lớp. Nhân sự điều hành phải là những người trực tiếp làm việc toàn thời
gian cho giáo dục và có khả năng chuyên môn. Do đó, mỗi trường, mỗi địa phương
phải có kế sách, chiến lược lâu dài, đi đôi việc đào tạo với sử dụng nhân lực
theo chủ trương “dụng nhân như dụng mộc”. Với cái nhìn thiện xảo của một người
lãnh đạo, ai cũng là nhân tài có sở dụng riêng. Nên có quỹ khuyến khích học
thêm cho TNS sau khi ra trường được đào tạo các chuyên ngành, đặc biệt là sư
phạm, quản trị giáo dục để có tầng lớp thừa kế và duy trì sự phát triển.
IV.
Quan hệ hợp tác
Trong
hệ thống quản lý của nhà trường, phải có một vị đặc trách ngoại vụ. Các công
tác ngoại giao, tiếp xúc chính quyền, hay giao lưu giáo dục do vị này đảm
trách. Thực tế cho thấy, trong nội bộ Phật giáo, các trường không có sự liên
kết nhau, nên không thể trao đổi học viên lẫn nhau, hay sinh viên muốn chuyển
trường thì không dễ dàng vì các trường không cùng quy chế, khác chương trình
học tập, thậm chí thang điểm cũng không ăn nhập gì nhau. Về đối ngoại, các
trường đại học thế học không công nhận văn bằng Cử nhân Phật học; văn bằng
Trung cấp chuyên nghiệp của thế học thì có giá trị hẳn hòi trong khi bằng Trung
cấp Phật học c hỉ là chứng chỉ cơ bản để vào Đại học Phật giáo. Đó là một sự
nghịch lý, bất công mà Phật giáo cần phải tranh đấu đòi hỏi quyền lợi cho học
viên của mình. Việc tranh đấu trước nhất là nội tại, xây dựng nội lực cho ngôi
nhà giáo dục Phật giáo của chúng ta.
Một
số ý kiến phản hồi trên các diễn đàn Phật pháp, tại sao Tăng ni được phép học
tại các trường thế học, trong khi người cư sĩ lại không được phép học tại các
trường Phật học? Một số trường thế học có khoa tôn giáo, khoa Phật học và mọi
công dân đều có quyền theo học, tại sao họ không được quyền học Phật học hay
các ngành khác tại trường Phật học? Hầu hết Phật tử tại gia ngày nay thiếu kiến
thức Phật học trầm trọng, dẫn đến những hiện trạng không mấy sáng sủa cho Phật
giáo đồ. Do đó, các Học viện nên cải c ách mạnh mẻ, áp dụng các quy chế của một
Đại học theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo để tất cả thành phần sinh
viên đều có thể tham học. Các trường Trung cấp nếu ngại ngùng việc tiếp xúc
Tăng-tục dẫn đến ảnh hưởng phạm hạnh Tăng ni, thì nên mở các lớp đào tạo Phật
tử tại gia, cấp chứng chỉ sơ, trung, cao, Hoằng pháp viên, v.v. Có thể ý kiến
cho rằng đó là nhiệm vụ của ban Hướng dẫn Phật tử, còn ban Giáo dục Tăng ni chỉ
dành để giáo dục Tăng và ni. Xin lập luận ngược lại, ban Hướng dẫn Phật tử thì
chỉ có hướng dẫn thôi, chứ không có dạy; còn ban Giáo dục Tăng ni thì chỉ đạo
mở trường lớp để dạy Tăng ni. Khi một ngôi trường đã có pháp lý thì phải dạy
tất cả đối tượng học viên nếu đầy đủ điều kiện. Việc dạy vừa đề xuất trên là
trách nhiệm của một ngôi trường, không phải của ban Giáo dục Tăng ni.
Với
những tiêu chí đặt ra vừa rồi, thì việc gắn kết giữa ban Giáo dục Tăng ni và
các ban ngành khác là điều tất yếu. Kết hợp ban Hoằng pháp để TNS có cơ hội
thực tập thuyết giảng, hướng dẫn; kết hợp ban Văn hóa để TNS tham gia đóng góp
công tác Phật sự; kết hợp ban Từ thiện để học viên có dịp thực tập hạnh dấn
thân nhập thế, v.v. Điều này cũng là quy tắc cho các ban ngành khác. Nếu ban
ngành nào cho rằng mình có thể độc lập hoạt động thì đây là một chủ trương lệch
lạc.
Trên
đây là những đóng góp nhỏ nhặt, xin lắng nghe như tiếng động của một đợt sóng
nhỏ giữa đại dương mênh mông. Chúng ta hãy mạnh dạn trở mình, để nhìn nhận
những tiếng khen, những biểu hiện cho là phát triển chỉ là trên một mặt nào đó.
Sự phát triển ấy có thể là sóng sau so với sóng trước của một thực thể nội tại.
Nếu so sánh với xã hội, với các thực thể khác, sự thành công ấy còn theo sau xã
hội, sau thế cuộc quá xa.
Xin
cảm ơn Hội nghị đã lắng nghe.
No comments :
Post a Comment